Con người Nhật Bản

kunoichi-chan

New Member
Con người Nhật Bản

1. Dân số

Nhật Bản là nước có số dân đông thứ 7 trên thế giới sau Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Aỏn Độ, Mỹ, Indonesia, Brasil và Nga. Dân số Nhật Bản : 126,434,470 (số liệu năm 2000). Thành phố đông dân nhất là Tokyo, với mật độ trung bình 13 ngàn người trên 1 km vuông. 79% dân số Nhật sống ở thành thị làm cho Nhật Bản trở thành một trong những nước có tỉ lệ dân thành thị cao nhất thế giới.



Dân cư Nhật Bản cơ bản là người Nhật thuần tuý, ngoài ra còn có người Ainu, người đến từ vương quốc Ryukyu cũ. Nhìn chung những người này khá đồng nhất và có xu hướng Nhật Bản hoá mạnh. Tuy nhiên hiện nay trong lòng Nhật Bản có một bộ phận khá đông đảo cư dân mang quốc tịch Hàn Quốc, CHND Triều Tiên sinh sống. Những người này không có tạo ra những nét riêng biệt khác văn hóa Nhật Bản.

Ở thành phố Yokohama có nhiều người Hoa kiều sinh sống, không mang quốc tịch Nhật. Họ tạo ra nét văn hóa Trung Hoa rất đậm nét.



Cũng như các nước phát triển khác, sự phát triển dân số Nhật Bản đã chậm lại trong những năm gần đây mặc dù tỷ lệ tử vong giảm mạnh. Sau đỉnh điểm 1,27% vào năm 1974, sự phát triển dân số hàng năm giảm dần chỉ còn 0,25% vào năm 1993. Tình trạng này là do có sự giảm mạnh về tỷ lệ sinh đẻ từ 18,6 trên 1000 người vào năm1974 xuống còn 9,6 trên một ngàn người vào năm1993. Dự đoán rằng dân số Nhật Bản sẽ đạt tới đỉnh điểm 129,5 triệu người vào năm 2010 và sau đó giảm dần. Tính đến tháng 10/1993 mật độ dân số ở Nhật là 330 người/km2. Hiện nay, 49% dân số Nhật tập trung đông đucự tại ba thành phố lớn làTokyo, Osaka, Nagoya, và các thành phố lân cận. Gần như phần lớn dân cư tập trung ở thủ đô Tokyo, nơi có một phần tư số dân Nhật hiện đang sinh sống. Một lý do để giải thích sự tập trung này là: các ngành công nghiệp, dịch vụ đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nề kinh tế Nhật Bản mà các ngành này lại tập trung ở khu vực Tokyo.



Thành phần tuổi tác của dân số Nhật Bản đang dần dần thay đổi. Kết cấu điển hình trước chiến tranh với đại đa số dân là trẻ em từ 14 tuổi trở xuống tạo thành một đáy rộng, đã nhường chử cho kết cấu hình cột đó là kết quả của việc giảm tỷ lệ sinh đẻ.

Năm 1993, 13,1% trong tổng số dân Nhật Bản có độ tuổi 65 tuổi trở lên. Tuổi thọ trung bình ở Nhật Bản cao nhất ở thế giới với phụ nữ là 82,22 tuổi và đàn ông là 76,09 tuổi. Tuy nhiên tỷ lệ người cao tuổi đang tăng rất nhanh và dự tính sẽ đạt tới 25.2% vào trước năm 2020.



2. Tính cách người Nhật Bản.

Người Nhật Bản có tính cách hết sức đặc biệt, có lẽ nhờ những tính cách này, người Nhật đã biến đất nước nghèo tài nguyên, khí hậu khắc nghiệt của mình thành một cường quốc. Có thể tóm tắt những tính cách đặc trưng đó như sau.


2.1 Có óc cầu tiến và rất nhạy cảm với những thay đổi trên thế giới
Có thể nói không có dân tộc nào nhạy bén với cái mới bằng người Nhật Bản. Họ không ngừng theo dõi những biến đổi của thế giới, đánh giá cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chíng đang diễn ra đối với Nhật Bản. Khi xác định được trào lưu đang thằng thế, họ sãn sàng chấp nhận, nghiên cứu và học hỏi để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ.

Người Nhật Bản rất coi trọng học vấn:

Nhật Bản nghèo tài nguyên chỉ trừ một thứ tài nguyên đặc biệt không nghèo đó là con người. Hệ thống giáo dục được xem như là chìa khóa làm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định về mặt chính trị. Việc đầu tư cho giáo ducù có ý to lớn đối với đất nước. Nhà nước bằng mọi cách suốt hàng thế kỷ qua đã tạo lập ra hệ thống có thể đào tạo lực lượng lao đôùng có hiệu quả cao, đưa đất nước tiến tới hiện đại hóa. ơỷ cấp độ cá nhân, con người Nhật Bản ngày nay được đánh giá chủ yếu dựa vào học vấn chứ không phải địa vị gia đình, địa vị xã hội và thu nhập. Cũng cần nói rằng, đạo Khổng đã đem lại cho Nhật bản xưa và nay tư tưởng pháp lý xã hội không dựa trên địa vị xuất thân, dòng dõi mà là giá trị qua thi cử.

Một trong những tính cách đáng chú ý nhất của dân Nhật là sự ham muốn phát triển nhân cách vô bờ bến của họ. Hơn nữa, sự theo đuổi học tập không phải để thỏa mãn nhu cầu tức thời nào đó mà đơn giản họ tin tưởng sâu sắc giáo dục phải là sự cố gắng suốt đời. Phần lớn người Nhật muốn hoàn thiện mình hơn và học hỏi là cách tốt nhất để đạt mục đích.

Chế độ xã hội Nhật Bản tạo cho người dân Nhật niềm tin rằng: số phận cơ may của họ được định đoạt bởi sự chăm chỉ học hành và điều quan trọng là họ cũng tin rằng tất cả họ ngay từ đầu đều có cơ hội bình đẳng như nhau. Do vậy, ý niệm về sự bình đẳng là một đặc điểm quan trọng của hệ thống giáo dục. Phần lớn người Nhật tin rằng họ đang sống trong một môi trường xã hội đồứng nhất không phải giai cấp, trong đó nguồn gốc xuất thân, tài sản thừa kế không quan trọng bằng sự cố gắng bản thân.



2.2 Người Nhật rất chú trọng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Người Nhật thành công trong việc kết hợp các yếu tố hiện đại và truyền thống. Họ sẵn sàng tiếp nhận những cái mới, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc của mình.



2.3 Tinh thần làm việc tập thể:

Đây là yếu tố đặc trưng vượt trội mà không tìm thấy được ở những quốc gia phương đông khác. Trong đời sống người Nhật, tập thể đóng vai trò rất quan trọng. Sự thành công hay thất bại trong con mắt người Nhật đều là chuyện chung của nhóm và mọi thành viên trong nhóm, bất kể anh ta đã làm ra sao, đều hưởng chung sự cay đắng hay vinh quang mà nhóm đã đạt được tập thể, nhóm ở đây có thể là công ty, trường học hay hội đoàn…

Trong làm việc người Nhật thường gạt cái tôi lại để đề cao cái chung, tìm sự hài hòa giữa mình và các thành viên khác trong tập thể. Trong các buổi họp hành người Nhật thường ít cãi cọ hay dùng những từ có thể làm mất lòng người khác. Các tập thể (công ty, trường học hay đoàn thể chính trị) có thể cạnh tranh với nhau gay gắt nhưng tuỳ theo hoàn cảnh và trường hợp, các tập thể cũng có thể liên kết với nhau để đạt mục đích chung. Thí dụ điển hình là hai công ty Nhật có thể cạnh tranh với nhau ở trong nước Nhật nhưng khi ra nước ngoài hai công ty có thể bắt tay nhau để cạnh tranh lại với một nước thứ ba của ngoại quốc.



2.4 Người Nhật không thích đối đầu với người khác.

Bản tính của người Nhật không thích đối kháng, đặc biệt là đối đầu cá nhân. Để tránh nó, họ luôn luôn làm theo sự mất trí. Họ chú tâm gìn giữ sự hòa hợp đến mức nhiều khi lờ di sự thật, bởi dưới con mắt người Nhật giữ gìn sự nhất trí, thể diện và uy tín là vấn đề cốt tử. Chính vì vậy trong xã hội Nhật, có rất ít chử cho ý tưởng cá nhân, vì lẽ người nào hòa nhập hoàn tòan vào các nhóm thì sẽ được đền đáp.

Trong khi chỉ nghĩa cá nhân được đề cao ở phương tây, thì ở Nhật sự tự khẳng định cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào cũng không được khuyến khích. Thông qua câu tục ngữ trứ danh ở Nhật “cây đinh nào ló lên sẽ bị đóng xuống’ thì ta có thể phần nào hiểu rõ hơn về thái độ của người Nhật đối với chủ nghĩa cá nhân.



2.5 Tính tiết kiệm và làm việc chăm chỉ

Người Nhật tằn tiện trong chi tiêu và cần cù trong lao động. Do đó sau 30 năm từ một nước bị chiến tranh tàn phá họ trở thành một cường quốc về kinh tế. Nhật nằm trên vùng hay gặp nhiều thiên tai nên gặp khó khăn bất kỳ lúc nào. Vì vậy tạo nên tính tiết kiệm. Ngoài ra, họ tiết kiệm để bảo đảm vấn đề ăn học cho con cái họ và dành dụm tiền mua nhà.



2.6 Lòng trung thành

Khi lý giải về những thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế và ổn định xã hội nhiều người đã nghiên cứu lòng trung thành và coi đó là một nhân tố đóng góp cho sự phát triển đó. Nho giáo đã có nhiều ảnh hưởng về mặt đạo đức. ơỷ Nhật bổn phận con cái đồng nhất với lòng trung thành.

Người Nhật luôn bị ràng buộc trong mối quan hệ trên dưới: một bên là sự bảo hộ, một bên là sự thuần phục và trung thành. Mọi người đều có trách nhiệm tuân theo các nguyên tắc xử sự để tránh sụp đổ hay đối địch. Trong một công ty thì cống hiến trung thành, kiềm chế là một khẩu hiệu chủ chốt. Trong khi người quản lý được yêu cầu phải có tình thương thì công nhân được yêu cầu phải biết vâng lời, trung thành với chủ đề trên.

Hơn thế các công ty Nhật Bản tăng cường sức mạnh của chính mình bằng cách nuôi dưỡng tình cảm trung thành của các công nhân và bằng cách đào tạo họ hơn nữa. Chính sự hài hòa giữa các nhân viên của công ty và sự hiến thân của họ cho công ty, chứ không phải sự cạnh tranh giữa các nhân công riêng lẻ, mới là điểm quan trọng. Nhưng khi phải cạnh tranh với các địch thủ nước ngoài thì các công ty Nhật lại đoàn kết thành một cơ thể thống nhất. Như vậy xã hội Nhật Bản là một xã hội cạnh tranh quyết liệt nhưng không tạo ra sự cạnh tranh giữa các cá nhân, cá nhân phải làm việc quên mình cho cuộc cạnh tranh của nhóm.

Bên cạnh những tính cách nêu trên, người Nhật còn có một số đặc tính:

+ Luôn làm việc theo mục tiêu đã định.

+ Tôn trọng thứ bậc và địa vị. Rất coi trọng tôn ti trật tự.

+ Cần cù và có tinh thần trách nhiệm cao.

+ Yêu thiên nhiên và có khiếu thẩm mỹ.

+ Tinh tế, khiêm nhường.

+ Trong kinh doanh người Nhật rất trọng chữ tín và phát triển mối làm ăn lâu dài.



Tóm lại, chúng ta không thể không thừa nhận rằng một số tính cách truyền thống của người Nhật kể trên đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển hiện đại hóa của Nhật Bản, có ảnh hưởng trực tiếp đến thực tiễn quản lý kinh tế - xã hội. Trên thực tế, nó đã tạo nên cơ cấu đạo đức của xã hội Nhật Bản hiện đại. Và những tích cách đó cũng chính là những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, chắc chắn tiếp tục có ảnh hưởng của Nhật Bản trong thế kỷ XXI này. Cho dù vẫn biết rằng trong xã hội Nhật Bản văn minh đương đại, có thể có những giá trị văn hóa truyền thống nhất định nào đó cũng cần có sự biến đổi theo hướng cách tân một cách khoa học, để phù hợp với nhu cầu phát triển khách quan của nước Nhật trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa, khu vực hóa hiện nay và tương lai sau này.
:)
 

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để gửi phản hồi

Bạn phải là thành viên mới có thể gửi phản hồi

Đăng ký

Hãy đăng ký làm thành viên. Việc này rất đơn giản!

Đăng nhập

Bạn là thành viên? Hãy đăng nhập tại đây.

Top